CHÚC MỪNG NĂM MỚI !!! NICO-PARIS.COM - Không gian Văn hóa - Giáo dục & Dịch thuật Văn học - Espace Culture - Education & Traduction littéraire
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống

TẢN MẠN VỀ LA KHẮC HÒA ( LÃ NGUYÊN )

Thứ tư ngày 3 tháng 6 năm 2026 12:00 AM


         1. Lã Nguyên tên thật là La Khắc Hoà. Vợ anh tên Vân, họ Nguyễn. “Nguyễn ghép với La thành Nguyễn La, nói lái thành Lã Nguyên. Thế thôi”. Ðó là lời giải thích của anh hơn 30 năm trước, khi tôi hỏi về bút danh anh dùng trong các bài viết. Nhà nước chỉ mới phong cho anh hàm Phó giáo sư, nhưng với tôi, anh đã là giáo sư lâu rồi.

Ở xứ ta việc phong học hàm, học hiệu, chức danh… nhiều khi lạ lắm. Có người chẳng dạy dỗ gì hoặc dạy rất ít, nhưng chỉ vì làm chức to và có ít nhiều liên quan đến ngành giáo dục thế là phong nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân… Không đi dạy sao gọi là nhà giáo? Thiết nghĩ, nếu có công lớn với ngành giáo dục thì nên trao cho họ huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; huy chương chưa xứng thì tặng huân chương, anh hùng lao động...hay là danh hiệu gì đó chứ nhất quyết không phải là nhà giáo ưu tú hay nhân dân gì cả. Về chức danh khoa học (học hàm, học vị) cũng thế; có người chẳng được phong gì như Hoàng Ngọc Hiến, nhưng ai cũng gọi thầy là giáo sư một cách kính cẩn, trân trọng. Trong khi không ít người được nhà nước phong giáo sư hẳn hoi nhưng gọi lên nghe cứ ngượng miệng, buồn cười thế nào ấy. Mà số này lại ngày càng nhiều. Ối người “y phục không xứng kỳ đức”, chẳng thế mà có câu “Ông này giáo sư nhưng mà giỏi”. Ban đầu, tôi nghĩ chẳng qua là họ nhại theo câu “Tay này đảng viên nhưng mà tốt”cho vui, hoá ra về sau thấy cũng có phần đúng thật. Nói đến chuyện này, La Khắc Hoà có cách nhìn riêng. Còn nhớ lần tôi hỏi: sao anh không làm giáo sư ? Anh cười và hỏi lại: “Này nhé có 2 câu, một là: Thằng ấy mà cũng giáo sư à? Và câu thứ 2: Thằng này mà chưa được giáo sư à? thì ông chọn câu nào?”. Tôi hiểu ngay và chỉ còn biết cười theo anh.

2. Về La Khắc Hoà, khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội từ lâu ai mà chẳng rõ; dân lý luận phê bình văn học cả nước ai mà không biết; các sinh viên sư phạm ngữ văn, thạc sĩ, nghiên cứu sinh chuyên ngành này không ai lạ cả… Nhắc đến anh, người ta nghĩ ngay đến một tư duy sắc sảo; luôn tiếp cận, nhìn nhận vấn đề một cách mới lạ và diễn đạt chúng đầy ấn tượng, độc đáo. Anh am hiểu sâu sắc những vấn đề thuộc chuyên ngành của mình, biết và hiểu đến nơi đến chốn những đề tài mà anh say mê, tâm đắc…

La Khắc Hoà là người chịu khó nghĩ và có cái để mà nghĩ. Dường như lúc nào trong đầu anh cũng nung nấu một cái gì đó về học thuật, về những gì anh đang đọc, đang nghĩ. Điều này rất giống giáo sư Trần Ðình Sử. Chẳng thế mà hầu như lần nào gọi điện hay gặp mặt, câu cửa miệng của anh bao giờ cũng là “Này, tớ đang nghĩ về vấn đề này….”, hoặc “ Mình vừa nghĩ ra tứ cho một bài viết về Nguyễn Duy, đại để thế này, ông xem có được không?”… Sau đó anh say sưa nói, nói không biết mệt về những gì anh nghĩ được, chẳng cần chú ý xem người nghe có hiểu hay không nữa. Trong những điều anh nghĩ, có vấn đề rất chuyên sâu, người nghe muốn hiểu cũng phải có ít nhiều tri thức về vấn đề ấy. Mà có phải ai cũng có điều kiện nghiên cứu những gì anh quan tâm đâu. Tôi chẳng hạn, nhiều hôm nghe anh, không hiểu gì. Nhưng nhìn chung, phần lớn là tiếp thu được, vì anh trình bày rất rõ và gọn. Tôi mải mê với công việc tìm hiểu về chương trình và sách giáo khoa trong nhà trường phổ thông, ít có điều kiện theo dõi, cập nhật các vấn đề mới về lý luận văn học chuyên sâu, nên thỉnh thoảng gặp anh là một dịp đi học lại, bổ túc thêm những gì mới, những gì cần biết về lĩnh vực này. Thường là tôi chỉ chăm chú nghe, không rõ thì hỏi lại; còn anh thì say sưa nói; nói từ đầu chí cuối, chẳng cần biết tôi có hiểu hay không. Lâu rồi thành quen, hình như không chỉ với tôi mà với nhiều người khác cũng vậy, anh lấy đó làm cách thức để luyện tập tư duy thì phải; luyện bằng cách nêu vấn đề để người khác phản biện và anh tìm cách lý giải… Chính vì thế anh rất thích nêu những gì đang nghĩ cho những người hay cãi, hay phản bác, tranh luận với mình, góp ý cho mình…

Thế nhưng điều cốt yếu, tôi nghĩ, được nói chính là niềm vui của La Khắc Hoà. Cứ nghĩ mà xem, một đầu óc tỉnh táo, một tư duy sắc sảo, một bản tính hướng ngoại, một đam mê truyền bá… lại ham đọc, ham tìm hiểu, biết được bao điều mới lạ mà người khác chưa biết như là những “bí mật”… thử hỏi sao mà giữ yên được? Vợ có cấm thì dứt khoát cũng phải đào một cái hố hoặc tìm cái chum, cái vại trong nhà để mà hét cho bõ. Huống chi vợ anh lại là người chủ trương “tự do ngôn luận”. Thế là La Khắc Hoà tha hồ nói, thoải mái trao đổi với bạn bè. Không ít lần tôi nghe anh khoan khoái thổ lộ: “Hôm qua tao vừa trao đổi với ông Sử (T.Ð.S) cả tiếng qua điện thoại” hoặc “Mình vừa nói chuyện rất lâu với Đỗ Lai Thuý”… Đại loại thế.

         3. Cách đây vài ba chục năm, tôi đã thấy anh rất hay đưa ra nhiều vấn đề theo kiểu ấy. Gặp ở đâu, bất cứ lúc nào cũng thấy La Khắc Hoà có ý kiến riêng, nói to, rõ ràng và lập luận rất sắc sảo. Những lúc đó tôi nghĩ, ông này mà viết ra tất cả thì thành mấy tập sách ấy chứ. Mà sẽ toàn sách hay, kém gì Trần Ðình Sử. Lâu lâu, sốt ruột, tôi giục: “anh viết thành bài, thành sách đi”; anh cười “chú cứ yên trí…”. Thế rồi, lại một thôi: tao định thế này, tao định thế kia…Rốt cuộc đợi mãi chẳng thấy sách đâu cả. Có lần tôi mang chuyện này nói với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh. Thầy Mạnh cười và buông một câu nhận xét:“La Khắc Hoà thuộc loại tư duy loe loé” và ông Mạnh giải thích: “nó là thằng chịu nghĩ và chịu khó phát hiện; nhưng cứ loé lên một ý rất hay, sau đó lại tắt ngấm, chẳng thấy triển khai thành bài vở gì cả”. Không biết có ai nói với anh nhận xét ấy của thầy Mạnh hay không, nhưng sau đó tôi thấy tình hình… vẫn không có gì thay đổi. Anh vẫn say sưa nói và nói rất hay, rất cuốn hút; còn chúng tôi thì vẫn cứ dài cổ đợi sách của anh ra lò. Cũng những năm tháng ấy, một lần cố giáo sư Đỗ Hữu Châu hỏi tôi về một việc gì đó, thay vì nói ý kiến của mình, tôi viện dẫn anh Hoà nói thế này, anh Hoà nói thế kia… Nghe chưa hết câu, giáo sư Châu đã lẩm bẩm: “Ôi giời, mày nghe cái thằng rồng cuốn, rồng leo ấy làm gì”. Nói thế, nhưng tôi biết thầy Châu quý anh Hoà lắm. Ðó là những năm chín mươi của thế kỉ trước…Những năm tháng ấy còn rất gian khó, phải kiếm ăn và nuôi vợ con trước đã; “cơm áo không đùa với ...” nhà nghiên cứu. Năm 1990 tôi ra làm nghiên cứu sinh, đến thăm nhà riêng của anh ở quân Thanh Xuân (Hà Nội), thấy giật mình. Một căn hộ gần 40 mét vuông, tầng 4 hay 5 gì đó, 2 phòng ngủ, được chia cho 2 gia đình (nhà anh và nhà GS Lê A), mỗi nhà 4 nhân khẩu. Nhà La Khắc Hòa lấy phòng ngủ rộng hơn ( khoảng 16 mét vuông) có ban công nhưng không có bếp và nhà vệ sinh. Nhà GS Lê A phòng ngủ hẹp hơn ( khoảng 12 mét vuông) thì có bếp và nhà vệ sinh. Nhà anh chỉ kê được 1 cái giường đôi; vì thế đêm ngủ phải nằm cả xuống sàn nhà mới đủ. Bếp và “nhà” vệ sinh ở 2 đầu của ban công, rất bất tiện... Khi đó tôi không hình dung ra được với diện tích nhà ở ấy thì hàng ngày cuộc sống, sinh hoạt cá nhân sẽ thế nào?... Thế mà đến nhà lúc nào cũng chỉ thấy nói chuyện và trao đổi chuyên môn say sưa với bạn tôi là Võ Hồng Ngọc (cán bộ khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội 2, đã mất), tôi chỉ ngồi nghe. Ngọc là học trò của anh, khi đó đang học ngoại ngữ chuẩn bị đi Nga... Tôi và Ngọc cũng đã từng lên thăm nhà anh ở quê, vùng Kẻ Bôn, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Ngày ấy mẹ anh còn, ấn tượng sâu đậm để lại trong tôi là hình ảnh một bà mẹ ít nói, hiền từ, chất phác và thương anh vô cùng... Đúng là một bà mẹ Việt Nam “nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng”...

         Cuộc sống thật khắc nghiệt. Sau một thời gian vất vả, La Khắc Hoà mua được đất, dựng được nhà,... đúng lúc có của ăn của để, con cái vừa trưởng thành thì bỗng một hôm anh bị quật ngã… Tưởng đã về với tổ tiên vì bệnh tim mạch. Tôi vào thăm anh trong bệnh viện quân đội 108, sau gần 10 ngày hôn mê rồi mà vẫn không hay biết gì. Trên người chỉ đắp một mảnh vải trắng. Hỏi mới biết động mạch chính trong ngực anh đã thành con “sông lấp”, chẳng còn tác dụng gì, chuyển máu về tim chỉ là một nhánh phụ rất nhỏ và có thể tắc bất cứ lúc nào. May mắn thay, nhờ sự nỗ lực can thiệp kịp thời của bệnh viện và cũng nhờ tiên tổ phù hộ, anh đã trụ lại được...

Nhưng cũng thật lạ, chính sau lần bị đốn ngã này, dù vẫn phải cảnh giác, đề phòng với bệnh tình, nhưng anh đã trở lại với lĩnh vực chuyên môn của mình một cách đĩnh đạc, sung sức và dường như mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bút danh Lã Nguyên xuất hiện nhiều hơn, nhất là với những bản dịch về các vấn đề lý luận văn học hiện đại. Anh say sưa đắm mình vào các trang mạng nổi tiếng, cập nhật, thu thập thông tin về các trào lưu, xu hướng đổi mới lý luận văn học…Anh làm việc còn nhiều hơn cả giai đoạn trước khi bị đốn ngã.

Kết quả là chỉ vài ba năm sau khi tạm bình phục, thành quả lao động của Lã Nguyên lại nhiều hơn những gì làm được trong khoảng thời gian trước. Năm 2010 anh tham gia dịch và cho ra cuốn Đường sống, tuyển tập văn thư nghị luận chọn lọc của L.Tolstoi. Cuốn sách gần 1200 trang do Phạm Vĩnh Cư chủ biên. Năm 2012 nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội in cuốn Lí luận văn học- những vấn đề hiện đại do Lã Nguyên chọn dịch. Ðúng hơn là một số vấn đề lý luận văn học hiện đại dưới con mắt Lã Nguyên. Hơn 300 trang, sách giới thiệu với bạn đọc hàng chục bài viết của những tên tuổi lớn về những vấn đề lý luận hiện đại: từ M Bakhtin với vấn đề thể loại lời nói và các tiểu luận của Tz. Todorov; J. Kristeva; M.L. Gasparov bàn về di sản của Bakhtin đến các công trình nghiên cứu của Iu.M. Lotman với hàng loạt các khái niệm then chốt như: “kí hiệu quyển”, “văn bản”, “ngôn ngữ nghệ thuật”, “kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”, “nguồn gốc truyện kể”; từ các tiểu luận bàn về “phê bình”, “nhà văn”, “người viết”, “tiến trình văn học”, “chủ nghĩa cấu trúc” của R.Barthes; Tz.Todorov; Al.V. Mikhailov đến hai công trình thực hành phân tích cấu trúcgiải cấu trúc của M.I.Gasparov và Iu.V.Satin…

Cuốn sách ra đời đúng lúc và rất cần thiết cho giới lý luận phê bình Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới thay đổi như vũ bão, tràn ngập thông tin thật giả, hay dở lẫn lộn; nhiều người biết ngoại ngữ nhưng cũng rất nhiều người mù tịt; ngoài ra phần lớn là biết không đến nơi đến chốn…thì nội dung cuốn sách trên là thật sự cần thiết; nó “không chỉ cung cấp nhiều khái niệm công cụ quan trọng mà còn giải quyết hàng loạt vấn đề lí thuyết, đặt nền tảng cho khoa nghiên cứu văn học học hiện đại” như Lã Nguyên đã dẫn dụ ngắn gọn trong mấy lời mở đầu cuốn sách.

Ba bốn năm sau lần bị bệnh tim mạch, La Khắc Hòa lại một lần nữa thoát cửa tử. Lần này là bị K dạ dày. May phát hiện sớm, bệnh viện cắt sạch cái bao tử có mầm bệnh ấy. Rồi anh bình phục khá nhanh. Lại hối hả làm việc, tiếp tục công bố một số bài viết rất đáng chú ý. Vào năm 2018, Lã Nguyên cho in cuốn Phê bình kí hiệu học, đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ [1]. Cuốn sách gây được tiếng vang lớn và cắm một dấu mốc quan trọng, ghi nhận một xu hướng nghiên cứu mới mẻ. Đó là một cuốn sách có giá trị.

Như mọi người đều biết, đã có quá nhiều công trình nghiên cứu đặc sắc của nhiều tên tuổi lừng lẫy trên thế giới về lí thuyết kí hiệu học. Nhưng vận dụng lí thuyết kí hiệu học vào phê bình văn học, phân tích, lí giải, cụ thể các tác phẩm, tác giả, từ đó mà nhận xét, đánh giá và khái quát thành những đặc điểm lớn, những giá trị lớn của văn học dân tộc… thì rất ít người làm được.

Thực trạng nghiên cứu phê bình văn học ở nước ta, tôi thấy có mấy dạng sau:

i) Phê bình nghiên cứu văn học chẳng theo và chẳng có lí thuyết nào hoặc chỉ hớt ngọn nên vận dụng một cách loang lổ, thiếu hệ thống, thậm chí tiền hậu bất nhất.

ii) Một số nhà nghiên cứu phê bình không nặng về lí thuyết, nhưng do có năng khiếu phê bình, thẩm định văn học nên vẫn có những bài viết rất tài hoa, hấp dẫn song tính hệ thống và tầm khái quát thường hạn chế.

iii) Một số người rất uyên bác về lí thuyết, nhưng rồi chỉ dừng lại lí thuyết; không vận dụng được những hiểu biết ấy vào nghiên cứu phê bình các hiện tượng văn học cụ thể một cách hiệu quả hoặc vận dụng rất gượng ép, rối rắm, thiếu sức thuyết phục….

Cuốn sách của Lã Nguyên cho thấy anh tránh được những hạn chế nêu trên. Đọc sách này, người ta thấy lí thuyết hiện đại trong nghiên cứu văn học được vận dụng một cách rất hiệu quả, có hệ thống, nhất quán và đầy sức thuyết phục. Cách tiếp cận mới đã giúp anh phân tích, so sánh… từ đó đi đến những phát hiện, nhận xét, đánh giá khái quát rất mới mẻ, hết sức thú vị với các minh chứng rất cụ thể, phong phú. Hạn chế dễ nhìn thấy của cuốn sách chỉ là có những nội dung lặp lại ở một số bài.

Do hiểu thấu đáo bản chất vấn đề, lại đủ vốn chữ để định danh, diễn tả chính xác đối tượng nghiên cứu, Lã Nguyên đã trình bày nhiều khái niệm phức tạp một cách rõ ràng, sáng sủa. Ngay cả các vấn đề vốn rất khó hiểu thì người đọc cũng thấy khó hiểu một cách rõ ràng, có nghĩa, khó hiểu thật chứ không khó hiểu một cách tù mù, vô nghĩa.

Vẫn là những tác giả, tác phẩm quen thuộc (Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…); vẫn là những hiện tượng văn học đã có (văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, văn học Việt Nam 1945-1975; văn học Việt Nam thời đổi mới 1975-1991, văn học hậu hiện đại Việt Nam…) nhưng với công cụ mới, với thao tác nghiên cứu và cách nhìn mới từ kí hiệu học, Lã Nguyên đã có nhiều phát hiện, giải mã, phiên dịch, cắt nghĩa… rất mới mẻ, có hệ thống và nhất quán trong phân tích, đánh giá, tiếp nhận văn học. Vì thế cuốn sách không dừng lại ở những phát hiện về nội dung và ý nghĩa các hiện tượng văn học; mà quan trọng hơn, nó đề xuất một cách tiếp cận, một hướng nghiên cứu mới cho lí luận, phê bình văn học.

Ấp ủ bài viết về Nguyễn Duy rất lâu, mãi đến năm 2021, La Khắc Hòa – Lã Nguyên mới phát triển ý tưởng về nhà thơ đồng hương, đồng tuế thành một chuyên luận “Nguyễn Duy nhà thơ hiện đại Việt Nam (thực hành phân tích diễn ngôn văn học)”[2]. Lâu nay bạn đọc vẫn quen nghĩ và hiểu về thơ Nguyễn Duy như một nhà thơ đậm chất dân gian với tuyên ngôn “Mây trôi bằng gió của trời/ Là ta, ta hát những lời của ta” ( Khúc dân ca), với thể lục bát nhuần nhị, thể thơ mà Nguyễn Duy có nhiều bài rất thành công. Có khá nhiều bài viết, luận văn, luận án về thơ Nguyễn Duy. Thành công hơn cả là bài “Nguyễn Duy thi sĩ thảo dân” của Chu Văn Sơn. Đó là bài viết rất công phu về thơ Nguyễn Duy với cảm hứng và ý tưởng chủ đạo: khẳng định kiểu nhà thơ “thảo dân”và chất dân gian hiện đại trong thơ Nguyễn Duy. Đến công trình của La Khắc Hòa, anh tiến thêm một bước dài khẳng định “ Nguyễn Duy- nhà thơ hiện đại Việt Nam”và chứng minh một cách thuyết phục bằng việc thực hành phân tích diễn ngôn văn học đối với thơ Nguyễn Duy trên các mặt: hình tượng tác giả - kiểu nhà thơ; nhân vật trữ tình; thể tài và cảm hứngngôn ngữ và giọng điệu. Công trình của anh nhằm làm rõ thơ Nguyễn Duy cổ điển mà rất hiện đại, những sáng tác của Nguyễn Duy “không phải là phiên bản của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa.”.

Để làm rõ điều đó, anh đã so sánh, đối lập giữa Nguyễn Duy và các nhà thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa mà tiêu biểu nổi bật là Tố Hữu. Kết quả phân tích, so sánh của anh mang lại cho người đọc rất nhiều điều thú vị. Chẳng hạn về hình tượng tác giả, một bên (Tố Hữu) là nghệ sĩ-chiến sĩ, còn với Nguyễn Duy là thi sĩ chúng sinh; bên kia là kiểu “tác giả cách mạng”, Nguyễn Duy là “tác giả nhân dân”. Về thể tài và cảm hứng, thơ Nguyễn Duy cũng viết về “đề tài chiến tranh ” nhưng đó không phải là chiến tranh qua con mắt sử thi với giọng điệu tụng ca mà là bài ca về “lòng dân” và sự trường tồn của nhân dân. Về nhân vật trữ tình, một bên là người Chiến Sĩ Cách Mạng, còn ở thơ Nguyễn Duy là Dân đen, người Dân. Về ngôn ngữ và giọng điệu, ở Tố Hữu là “ngôn ngữ nhà binh”, ở Nguyễn Duy là “ngôn ngữ sinh hoạt, ngôn ngữ làng quê”;... Về điệu giọng trữ tình: ở Tố Hữu là những giọng có khuôn mẫu từ thời trung đại: Hịch văn, Thệ thi, Ca thi và Đại cáo . Hịch, Cáo là điệu giọng quyền uy từ bên trên. Thệ văn và Ca thi là điệu giọng cung kính từ bên dưới.”. Ở Nguyễn Duy giọng chủ đạo là hài hướctrữ tình cảm thương.”.v.v.

Cuốn chuyên luận này của La Khắc Hòa đã làm thay đổi nhiều cách nhìn, cách nghĩ về thơ Nguyễn Duy. Nó thuyết phục người đọc bằng những căn cứ và công cụ khoa học với một quan niệm và phương pháp có tính hệ thống, nhất quán trong phân tích của người viết. Điều này không phải các nhà lí luận phê bình nào cũng có được. Cuốn sách của Lã Nguyên cũng gợi mở và cung cấp cho các nhà nghiên cứu một hệ công cụ và hướng tiếp cận mới như GS Trần Đình Sử đã nêu “tập sách nhỏ về thơ Nguyễn Duy của Lã Nguyên nêu ra một vấn đề rất lớn đối với văn học sử đương đại Việt Nam. Đó là vấn đề loại hình hóa các dòng văn học trong nội bộ của nó.

4 .Trong số các nhà phê bình văn học đương đại, có hai người cùng tuổi mà tôi quen biết là La Khắc Hòa (Lã Nguyên) và Đỗ Lai Thúy. Hai ông tuổi con lợn (Đinh Hợi), tôi tuổi con gà (Đinh Dậu), như thế các ông hơn tôi 10 tuổi. Nhìn bên ngoài và cung cách giao tiếp, hai ông có vẻ rất khác nhau; nhưng với chuyên môn, học thuật cả hai rất giống nhau vì đều rất giỏi. Những bài phê bình mang tên hai ông đều rất sâu sắc, mới mẻ, hấp dẫn...

Về hình dáng, Đỗ Lai Thúy cao lồng ngồng, còn La Khắc Hòa có vẻ “thấp bé nhẹ cân”. Trong các cuộc gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, tôi để ý thấy Lã Nguyên luôn say sưa bất tận, nói to và nói rất hay, toàn các khái quát, khám phá mới mẻ về một vấn đề gì đó mà ông đang nghĩ, mới nghĩ được... Trái lại Đỗ Lai Thúy toàn ngồi... lặng im. Lúc nào cũng thấy ông trầm ngâm, tư lự; vừa như lắng nghe mọi người, vừa như đang nung nấu về một điều gì đó trong đầu...

Nhưng hai ông có điểm chung khá giống nhau ở cách tiếp cận và phong cách phê bình. Cũng như Đỗ Lai Thúy, La Khắc Hòa có lý thuyết riêng và cả một bộ công cụ tương ứng để “hành nghề”, để phục vụ và hỗ trợ. Ở nước ta từ trước tới nay thường có hiện tượng nghiên cứu thì giỏi nhưng không viết được phê bình hoặc viết phê bình rất kém, có ý mà không có văn. Ngược lại có người viết phê bình được nhưng lại ít nghiên cứu, không nghiên cứu. Điểm mạnh nhất của La Khắc Hòa và Đỗ Lai Thúy mà nhiều người không có, theo tôi là hai ông thống hợp được giữa nghiên cứu và phê bình. Viết phê bình dựa trên kết quả nghiên cứu, có nghiên cứu tử tế. Do làm chủ được ngoại ngữ nên các ông luôn tiếp cận, cập nhật được các thành tựu khoa học (không chỉ trong trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ) một cách mới mẻ. Và quan trọng hơn, các ông đã lựa chọn, xác lập cho mình một hướng phê bình có cơ sở lí thuyết, có quan niệm rõ ràng và nhất quán.

Có người nói, La Khắc Hoà chủ yếu dịch cái của người khác. Ðúng thế. Nhưng họ quên mất một điều: vấn đề là dịch cái gì và dịch như thế nào? Đọc tập sách Lã Nguyên dịch, ngẫm kĩ sẽ thấy, riêng để xác định dịch cái gì, bài nào, của ai là cả một tầm nhìn, một trình độ hơn người. Ðây không phải là một tập sách dịch nguyên văn của một ai đó ở nước ngoài đã tuyển hộ, mà là thông qua sự đọc, thông qua nghiên cứu, tìm tòi, có thể nói “trên đường học tập và nghiên cứu” anh đã thu thập, tổng kết, chọn lựa và sau đó mới là chuyện dịch. Và ngay cả chuyện dịch cũng không phải đơn giản, đánh đồng tất cả. Để dịch được các vấn đề của các tác giả nêu trên, trước hết người dịch phải có một trình độ lý luận văn học uyên bác, không hiểu hoặc hiểu lõm bõm thì làm sao dịch nổi. Ngay cả với bản tiếng Việt, dịch ra rồi, nhiều người đọc vẫn không hiểu, chứ nói gì đến đọc từ nguyên bản. Giỏi chuyên môn chưa đủ, để dịch hay phải có một trình độ ngoại ngữ tương ứng, cộng với một vốn liếng tiếng Việt phong phú, đa dạng và một năng lực diễn đạt, chuyển ngữ hết sức linh hoạt nữa… Lã Nguyên là một dịch giả như thế. Anh chuyển dịch chủ yếu từ nguyên bản tiếng Nga. Thứ tiếng gắn bó với anh từ ngày làm luận án bên đất bạn, cho tới giờ anh vẫn chung thủy, sắt son với nó và theo tôi Lã Nguyên là một trong số ít dịch giả Nga ngữ có uy tín, nhất là về các vấn đề lý luận văn học. Trong lúc nhiều người cũng đi học ở Nga, làm luận án bên Nga…nhưng từ khi về nước, chẳng mấy nỗi, đã quên luôn cả tiếng Nga; có cán bộ giảng dạy, mang danh nhà nghiên cứu, thậm chí được phong giáo sư, cũng ở Nga về… thế mà cả năm chưa chắc đã đọc nổi vài chục trang sách bằng tiếng nước ngoài, kể cả tiếng Nga…Vâng, trong bối cảnh ấy, những người như Lã Nguyên không nhiều và các bản dịch của anh thật có ý nghĩa.

5. Người ta vẫn nói “văn là người”. Đọc các bài viết của La Khắc Hòa, tôi luôn có cảm giác hệt như khi đang nghe anh nói. Mới hôm qua thôi, ngồi đọc lại bài anh viết về Nguyễn Tuân, càng thấy đúng. Cứ tầng tầng lớp lớp câu chữ, lời lẽ tranh nhau tuôn chảy; rất khái quát nhưng cũng rất cụ thể, vừa mới lạ về ý tứ, vừa hấp dẫn về văn phong; rất mạch lạc chặt chẽ nhưng cũng đầy ảm ảnh, ma mị… Đúng là La Khắc Hòa thuộc loại nói nhiều và rất thích nói. Nhưng tôi để ý, trong cuộc sống có những kiểu người nói nhiều khác nhau. Ít nhất có hai kiểu:

Kiểu 1: Nói rất nhiều, nhưng hễ cứ bắt đầu nói, cho dù về vấn đề gì đi nữa, cuối cùng vẫn là nói về mình, tự khen mình; đề cao, ca ngợi họ hàng hang hốc nhà mình. Loại này nhiều lắm, chỉ khác nhau là kín đáo hay lộ liễu mà thôi. Thường là những quan chức làm to, những vị có chút danh vọng, tiếng tăm… nay về nghỉ, cứ sợ người đời, nhất là bọn “đầu xanh tuổi trẻ”, không biết hoặc quên mất nên thường oang oang về một thời quá vãng, tự kể chuyện mình.

Kiểu 2: Cũng nói rất nhiều, nhưng thường là giãi bày những trăn trở, suy tư về cuộc đời, về học thuật; tranh luận, đối thoại, nói nói rất hay, rất sâu sắc, hấp dẫn về những điều mình đọc được, nghĩ được; những điều thấy tâm huyết, mới mẻ, hay ho…không nói ra không chịu được, giống như anh chàng hầu cận trong câu truyện cổ, phải đào cái hố trong rừng, úp mặt vào đó mà hét tướng lên “vua Midas có đôi tài lừa”. Loại này không nhiều.

May quá, La Khắc Hòa thuộc kiểu thứ 2.

Bây giờ thì anh đã về hưu, mỗi ngày vợ chỉ định phải uống mấy loại

thuốc; phải ăn theo thực đơn vợ chuẩn bị; phải làm một số việc “động chân động tay” do vợ đề ra; vì “chỉ có thế mới nhấc ông ấy ra khỏi chiếc máy vi tính” như lời vợ anh giải thích. Nghĩa là bị kiểm soát khá chặt chẽ. Chế độ mẫu hệ vốn được thiết lập từ lâu trong nhà anh, nay được dịp củng cố và phát huy mạnh mẽ. “Kính vợ đắc yên thân” là tư tưởng chiến lược được anh quán triệt thông suốt từ lời nói đến việc làm... Duy chỉ có những suy nghĩ miên man là vợ anh không kiểm soát được và thật may, chủ trương “tự do ngôn luận” vẫn được duy trì. Nghĩa là anh vẫn còn niềm vui được nói; vẫn say sưa, bất tận với những ý tưởng mới mẻ, những dự định mà anh đang “âm mưu” biến thành hiện thực. Điều anh ấp ủ và chủ trương hướng tới vẫn là vận dụng khung lý thuyết hiện đại vào nghiên cứu văn học dân tộc. Từ những nghiên cứu về Nam Cao, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng trước đây đến Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khánh, Sương Nguyệt Minh, Đặng Thân... gần đây. Tác giả đương đại anh mê hơn cả vẫn là văn Nguyễn Huy Thiệp, thơ Nguyễn Duy... và nhận thấy rất cần nghiên cứu về thơ Nguyễn Quang Thiều…

Nhắm mắt lại, bên tai tôi vẫn văng vẳng những diễn ngôn sôi nổi, say sưa, bất tận của La Khắc Hoà về những ý tứ thâm trầm, về các tác giả, tác phẩm văn học mà anh định viết. Vẫn là những tia chớp loé sáng rất lạ, nhưng bây giờ chúng không chỉ loé lên rồi tắt mà đã được anh thổi bùng lên thành những bó đuốc rực sáng; thành những tác phẩm lần lượt ra đời. Hi vọng những năm tháng còn lại anh tiếp tục công bố những gì đã và đang nung nấu...

Bây giờ chỉ mong trời cho anh sức khỏe. Thế thôi.

Hà Nội, tháng 5/2024

 




[1] NXB Phụ nữ 2018.

[2] Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2021.

Chia sẻ trên Facebook